Chương trình mục tiêu quốc
gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh
tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11
nội dung sau:
1. Quy hoạch xây
dựng nông thôn mới
Đạt yêu cầu tiêu chí số 01
của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch
xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn
mới, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020;
Nội dung chi tiết:
- Nội dung 1: Quy hoạch sử
dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;
- Nội dung 2: Quy hoạch
phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới
và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã.
2. Phát triển hạ
tầng kinh tế - xã hội
Đạt yêu cầu tiêu chí số 2;
3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
Nội dung chi tiết:
- Nội dung 1: Hoàn thiện
đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ thống giao thông trên địa
bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc
bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ
bản cứng hóa);
- Nội dung 2: Hoàn thiện
hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất
trên địa bàn xã. Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020
là 95% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 3: Hoàn thiện
hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa
bàn xã. Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có
75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 4: Hoàn thiện
hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã. Đến
2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 5: Hoàn thiện
hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã. Đến
2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 6: Hoàn chỉnh
trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm
2020 có 85% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 7: Cải tạo, xây
mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn (có 50%
kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa). Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản
cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch).
3. Chuyển dịch
cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập.
Đạt yêu cầu tiêu chí số
10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến năm 2015 có 20% số xã đạt,
đến 2020 có 50% số xã đạt;
Nội dung chi tiết:
- Nội dung 1: Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng
hóa, có hiệu quả kinh tế cao;
- Nội dung 2: Tăng cường
công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp;
- Nội dung 3: Cơ giới hóa
nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;
- Nội dung 4: Bảo tồn và
phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”,
phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;
- Nội dung 5: Đẩy mạnh đào
tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải
quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn.
4. Giảm nghèo và
an sinh xã hội.
Đạt yêu cầu tiêu chí số 11
của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
Nội dung chi tiết:
- Nội dung 1: Thực hiện có
hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ
nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới;
- Nội dung 2: Tiếp tục
triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo;
- Nội dung 3: Thực hiện các
chương trình an sinh xã hội.
5. Đổi mới và
phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 13
của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến
2020 có 75% số xã đạt chuẩn.
Nội dung chi tiết:
- Nội dung 1: Phát triển
kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;
- Nội dung 2: Phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;
- Nội dung 3: Xây dựng cơ
chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông
thôn.
6. Phát triển
giáo dục - đào tạo ở nông thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 5
và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn
và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;
Nội dung: Tiếp tục thực
hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của
Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
7. Phát triển y
tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 5
và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn
và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
Nội dung: Tiếp tục thực
hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ
tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
8. Xây dựng đời
sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn.
Đạt yêu cầu tiêu chí số 6
và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn
hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn. Đến 2020 có
75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm internet đạt
chuẩn;
Nội dung chi tiết:
- Nội dung 1: Tiếp tục
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu
chí quốc gia nông thôn mới;
- Nội dung 2: Thực hiện
thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông
thôn mới.
9. Cấp nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 17
trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt
sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch
vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
trên địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt
chuẩn;
Nội dung chi tiết:
- Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu
quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
- Nội dung 2: Xây dựng các công trình bảo vệ môi
trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo
nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom,
xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng
các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình
công cộng….
10. Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính
quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn.
Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia
nông thôn mới. Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt
chuẩn;
Nội dung chi tiết:
- Nội dung 1: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo
quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;
- Nội dung 2: Ban hành chính sách khuyến khích, thu
hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là
các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ
cán bộ ở các vùng này;
- Nội dung 3: Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế
hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng
nông thôn mới.
11. Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông
thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia
nông thôn mới. Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;
Nội dung chi tiết:
- Nội dung 1: Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về
trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;
- Nội dung 2: Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm
vụ và chính sách tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn
thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây
dựng nông thôn mới.
Mục tiêu quốc
gia xây dựng NTM đến năm 2020 được thể hiện trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ bảy của Ban
Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Mục tiêu đến năm 2015 cả nước có trên 20% số
xã đạt chuẩn Nông thôn mới, và đến năm 2020 có trên 50 % số xã đạt chuẩn Nông thôn mới. Cụ thể là:
- Tốc độ tăng
trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5 - 4%/năm; sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm
và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa đảm bảo vững chắc an ninh lương thực
quốc gia trước mắt và lâu dài. Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển
công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng
cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay.
- Lao động
nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn qua đào
tạo đạt trên 50%.
- Phát triển
đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là hệ thống thuỷ
lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa 2 vụ, mở rộng diện
tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp, cấp thoát nước chủ động cho diện tích
nuôi trồng thủy sản, làm muối; đảm bảo giao thông thông suốt 4 mùa tới hầu hết
các xã và cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bản; xây dựng cảng cá, khu neo đậu
tàu thuyền và hạ tầng nghề cá; cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư, các cơ sở
công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; đảm bảo cơ bản điều kiện học tập chữa bệnh,
sinh hoạt văn hoá, thể dục thể thao ở hầu hết các vùng nông thôn tiến gần tới
mức các đô thị trung bình.
- Nâng cao
chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả, bền vững công
cuộc xoá đói, giảm nghèo; nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của
giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi
nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Nâng cao
năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, hoàn chỉnh hệ thống đê sông, đê biển
và rừng phòng hộ ven biển, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, cụm dân
cư đáp ứng yêu cầu phòng chống bão, lũ, ngăn mặn và chống nước biển dâng; tạo
điều kiện sống an toàn cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và các
vùng thường xuyên bị bão, lũ, thiên tai; chủ động triển khai một bước các biện
pháp thích ứng và đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Ngăn chặn, xử lý tình
trạng ô nhiễm môi trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường nông thôn.
Câu 3: Cho biết tên các xã được Ban chỉ đạo
chương trình xây dựng thí điểm mô hình NTM-TW(2009-2011) chọn thí điểm mô hình nông thôn mới? Bạn hãy
nêu tóm tắt kết quả đạt được của 11 xã điểm đó
Có 11 xã được Ban chỉ đạo chương trình xây dựng thí điểm mô hình
NTM-TW(2009-2011) chọn thí điểm mô hình
nông thôn mới, đó là:
1. Xã Thanh Chăn, huyện Điện Biên, tỉnh
Điện Biên;
2. Xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc
Giang;
3. Xã Hải Đường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
4. Xã Gia Phố, huyện Hương Khê, tỉnh Hà
Tĩnh;
5. Xã Tam Phước, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng
Nam ;
6. Xã Tân Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng;
7. Xã Tân Lập, Huyện Đồng Phú, tỉnh Bình
Phước;
8. Xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang, tỉnh
Trà Vinh;
9. Xã Định Hòa, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên
Giang;
10. Xã
Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội;
11. Xã
Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
Tóm tắt kết quả đạt được của 11 xã điểm nêu trên:
(Sau 3 năm thực hiện)
(Sau 3 năm thực hiện)
| STT |
Tên xã
|
Số tiêu chí đạt |
Tóm tắt kết quả đạt được
|
1
|
Thanh Chăn
(huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) |
9/19
|
- Mức
thu nhập bình quân tăng lên đạt 9,6 triệu đồng/người/năm (tăng 2,7 triệu
đồng)
- Hoàn thành
toàn bộ hệ thống trục chính giao thông xã, thôn theo tiêu chuẩn.
- Xóa 100 % nhà
tạm, xây dựng trụ sở đạt chuẩn.
- Giảm tỉ lệ hộ
nghèo xuống còn 7,86%
- Đảm bảo 100%
cán bộ cơ sở được đào tạo và đào tạo lại để có kiến thức tổ chức quản lý, chỉ
đạo xây dựng nông thôn mới…
- 50% kênh mương
do xã quản lý được bê tông hóa.
- 90% hộ được sử
dụng điện an toàn.
- Có trường tiểu
học đạt chuẩn quốc gia.
|
2
|
Tân Thịnh
(huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang) |
16/19
|
- Thu nhập đạt 23 triệu đồng/người/năm.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7,25%.
- Giải quyết việc làm cho 150 lao động với mức thu nhập
bình quân 2.000.000 đồng/người/tháng.
Tỷ lệ lao động Nông nghiệp giảm còn 51,7 %
- 78% nhà ở dân cư đạt tiêu chuẩn của Bộ xây dựng.
- 100% đường ngõ xóm đã được cứng hoá, không
còn lầy lội vào mùa mưa .
- 100% kênh mương do xã quản lý được kiên cố.
- 100% số hộ trong xã được sử dụng điện.
- 100% trường học đạt chuẩn quốc gia.
- 12 thôn của xã có khu trung tâm văn hóa.
- Hệ thống chính trị vững mạnh.
- An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững
và ổn định…
|
3
|
Hải Đường
(huyện Hải Hậu, tỉnh |
13/19
|
- Mức thu nhập
bình quân đầu người tăng lên 15,83 triệu đồng/năm.
- Cơ câu lao
động Nông nghiệp giảm còn 55 %.
- Tỷ trọng Công
nghiệp- TTCN, dịch vụ tăng lên 48,5 %.
- 840 lao động
được học nghề mơi và có việc làm ổn định.
- Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, thủy lợi, điện,
trường học, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, hình thức tổ chức sản
xuất, y tế, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, an ninh,
trật tự xã hội đều đạt tiêu chí.
|
4
|
Gia Phố
(huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh) |
16/19
|
- Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 15%
- Thu nhập bình quân đầu người đạt 16,1 triệu đồng/năm bằng
1,4 lần bình quân chung toàn tỉnh.
-
Tỷ lệ hộ nghèo từ 37,73% xuống còn 5,28%.
-
Đường giao thông nông thôn
được kiên cố hóa và nâng cấp toàn xã.
- Xã xây mới 14
phòng học cao tầng, đến nay 4/4 trường đều được công nhận đạt chuẩn Quốc gia.
- Toàn xã có 3
khu thể thao, trong đó có 1 khu trung tâm đạt chuẩn, 12/12 nhà văn hóa thôn
đạt quy định, 9/12 thôn đạt danh hiệu làng văn hóa.
- 100% hộ nghèo
không còn phải sống trong nhà dột nát, tạm bợ.
- Trạm
y tế xã đã đạt chuẩn theo quy định của Bộ Y tế và theo tiêu chí nông thôn mới.
|
5
|
Tam Phước
(huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng |
18/19
|
- Thu nhập bình quân đầu
người đạt 19,21 triệu đồng/người/năm gấp 1,4 lần so với bình quân chung khu vực nông thôn
của tỉnh Quảng
- Các tuyến giao
thông nông thôn được bê tông hóa, nhựa hóa 100%.
- Người dân đã
an cư lạc nghiệp với trên 1.600 hộ có nhà đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định,
sản xuất phát triển, môi trường nông thôn đảm bảo.
- Cơ cấu kinh tế, tiểu thủ
công nghiệp- xây dựng của Tam Phước tăng lên 37,24%, nông nghiệp từ chỗ chiếm
tỷ trọng kinh tế chính, nay giảm chỉ còn 34,49%, thương mại - dịch vụ đạt
28,27%.
- Tỷ lệ hộ nghèo
chỉ còn 4,91% (giảm 8,63%).
|
6
|
Tân Hội
(huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng) |
16/19
|
- Tổng thu nhập của xã đạt 479 tỷ đồng (tăng 1,8 lần
so với năm 2009),
- Thu nhập bình quân đầu người đạt 26 triệu đồng (tăng 1,55 lần so với năm 2009) - Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn ở mức 2,8%. - Xây dựng, đào tạo và duy trì hai cơ sở nghề dệt len giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động nông nhàn tại địa phương. - Kiên cố hóa 80 % đường giao thông trên địa bàn, xây dựng các công trình chiếu sáng vỉa hè, cây xanh ở khu vực trung tâm. - Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn đạt trên 98 % - 100 % thôn đạt văn hóa cấp tỉnh, cấp huyện. |
7
|
Tân Lập
(huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước) |
16/19
|
- Đã hoàn thành qui hoạch chung và qui hoạch chi tiết,
- Giao thông đã được kiên cố 100%
- Về thuỷ lợi cơ bản đã đã đáp ứng được sản xuất và kinh
doanh đã kiên cố hóa được 3 km tuyến kênh mương đạt 85%.
- Điện đã hoàn thành 100%.
- Trường học đạt 100%.
- Đã xây dựng 9/9 nhà văn hoá đạt chuẩn.
- Đã có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, đã có đường
truyền internet đến các thôn ấp. - Không còn nhà tạm dột nát. Thu nhập
bình quân đầu người 23 triệu đồng/người/năm
- Tỷ lệ hộ nghèo địa phương giảm và chỉ còn 2,3%. - Các tổ
chức sản xuất hoạt động đã có hiệu quả.
- Đã đạt yêu cầu phổ cấp giáo dục trung học
- Về y tế đã hoàn thành 1 trạm y tế đạt chuẩn.
- Về thôn ấp văn hoá, trên 70% thôn ấp đạt văn hoá.
- Tỷ lệ hộ được sử dụng nguồn nước sạch hợp vệ sinh theo
qui chuẩn quốc gia đạt 90%, các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về
môi trường.
- Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, Đảng bộ
chính quyền xã đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh.
- An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
|
8
|
Mỹ Long Nam
(huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh) |
18/19
|
- Toàn xã đã thực hiện được 57 công trình bao gồm: Giao
thông, thủy lợi, điện, trường học, y tế, chợ, cơ sở vật chất văn hóa
- Thu nhập bình quân khoảng 25 triệu đồng/người/năm, tăng
hơn 1,6 lần so với thu nhập bình quân đầu người của toàn tỉnh.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn dưới 6%.
|
9
|
Định Hòa
(huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang) |
11/19
|
- Về hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất,
các kênh trong xã được nạo vét phục vụ tốt yêu cầu sản xuất và dân sinh của
nhân dân trên địa bàn. Tỷ lệ hộ được thụ hưởng qua Chương trình mục tiêu Quốc
gia và địa phương về giao thông, điện, nước sạch tăng tỷ lệ lên 95%.
- Hoàn thành 10/10 ấp có cầu bê tông thuận tiện cho nhân dân đi lại.Toàn xã có hệ thống đường giao thông liên xã khá phát triển. Tuyến giao thông liên ấp có tổng chiều dài 47,5 km đã bê tông hóa gần 24,5 km - Đóng góp xây dựng hoàn thành được 183/222 căn nhà cho hộ nghèo - Có 2/5 điểm trường đạt chuẩn Quốc gia; 04/10 nhà văn hóa ấp; 01 Trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia; 01 lò thiêu đảm bảo vệ sinh môi trường ; 02 đội văn nghệ-thể thao được đầu tư và duy trì hoạt động thường xuyên -An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định. |
10
|
Thụy Hương
(huyện Chương mỹ, thành phố Hà Nội) |
18/19
|
- Tăng trưởng
kinh tế bình quân: 23%;
-Bình quân lương
thực: 440,6kg/người/năm;
- Thu nhập bình
quân: 21 triệu đồng/người/năm (tăng 2,12 lần so với 2009);
- Không có hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 15% xuống còn 4%;
- Hệ thống tổ
chức chính trị xã hội vững mạnh và đảm bảo an ninh, trật tự xã hội.
- Hệ thống điện
đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành Điện; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên,
an toàn từ các nguồn.
|
11
|
Tân Thông Hội
(huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh) |
18/19
|
- Bình
quân thu nhập đầu người/năm tại xã Tân Thông Hội là 28,66 triệu
đồng/người/năm.
-Tỷ lệ hộ nghèo giảm chỉ còn 7,85 % - Cơ cấu lao động, giải quyết việc làm cho 511 lao động/tổng số 1.604 lao động chưa có việc làm, đạt 128 % kế hoạch năm. - Hạ tỷ lệ lao động chưa có việc làm từ 6,7% xuống còn 4,6% trên tổng số lao động toàn xã. - Chuyển dịch lao động sang khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, hạ tỷ lệ lao động Nông Lâm Ngư nghiệp từ 33,6 % xuống còn 17,1 % - Củng cố, nâng cao hiệu quả Hợp tác xã chăn nuôi bò sữa (124 xã viên, thu mua 40 tấn sữa/ngày); duy trì hiệu quả HTX quản lý và kinh doanh chợ; thành lập mới 03 Tổ hợp tác (hoa lan, nuôi trăn và sản xuất rau VietGAP). |
*Các tiêu chí còn lại của các xã điểm trên đều đạt
từ 50-80 % yêu cầu
Câu 4: Cho biết Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn và Công đoàn ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam
đã có những văn bản chỉ đạo các đơn vị trong ngành thực hiện những nội dung gì
về nông thôn mới?
Bộ
nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
- Thông
tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Văn
bản số 2543/BNN-KTHT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
về việc hướng dẫn đánh giá và lập báo cáo xây dựng nông thôn mới cấp xã giai
đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030.
- Thông
tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/2/2010 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ
tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Quyết
định số 1003/QĐ-BNN-KTHT ngày 18/5/2011 phê duyệt chương trình đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới.
- Kế
hoạch số 30/KH-BCĐTW-VPĐP ngày 20/5/20011 của Ban chỉ đạo Trung ương Chương
trình MTQG xây dựng nông thôn mới về Kế hoạch Tuyên truyền Chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.
Bộ Nông Nghiệp và
Phát triển nông thôn phối hợp với các Bộ ban hành các văn bản liên bộ hướng dẫn
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới:
- Thông
tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNN-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn
một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng
Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới
giai đoạn 2010-2020.
- Thông
tư số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011 của Bộ Xây dựng, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc
lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới.
- Văn
bản số 2543/BNN-KHTH ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
về việc hướng dẫn đánh giá và lập báo cáo xây dựng nông thôn mới cấp xã giai
đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030.
Công
đoàn ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam :
-
Kế hoạch số 275/KH-CĐN phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát
triển kinh tế xã hội năm 2011 và kế hoạch 5 năm (2011-2015) theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.
- Kế
hoạch số 298/KH-CĐN ngày 13/7/2012 của Công đoàn Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam
“Tổ chức cuộc thi tìm hiểu về xây dựng nông thôn mới”.
-
Công văn số 300/CĐN ngày 13/7/2012 của Công đoàn Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt nam phát động cuộc thi tìm hiểu chương trình xây dựng nông thôn mới.
|
CHUYỆN VỀ ANH MƯỜI KIM
Hiến đất mở đường xây dựng nông
thôn mới
Trước khi
triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, xã Diên An, huyện Diên Khánh,
tỉnh Khánh Hòa đã đánh giá lại thực trạng giao thông nông thôn trên địa bàn. Do
nằm dọc trên con đường huyết mạch 23/10 nối liền giữa thành phố Nha Trang và
Diên Khánh, các hoạt động kinh tế - văn hóa xã hội của xã Diên An phát triển
mạnh, giao thông thuận lợi, đời sống người dân được nâng cao. Diện mạo là vậy,
ít ai nghĩ rằng nhiều nẻo đường thôn xóm xã Diên An vẫn còn giăng bụi khi nắng
về và dầm nước mỗi mưa sang. Vận chuyển hàng hóa, đi lại trong xã chưa được
thuận lợi bởi nhiều đường hẹp, thỉnh thoảng ai đó phải dừng lại tránh mấy chú
bò đang thong dong ra đồng, choán lối đi.
Mở rộng và
kiên cố hóa đường đi là ước mơ chung của người dân xã Diên An. Song khi được xã
phố biến nội dung đề án xây dựng nông thôn mới, nỗi băn khoăn của bà con hiện
rõ. Mở đường là phải chạm đến đất, không ai tự dưng chịu thu hẹp phần đất từ
lâu mình tạo dựng, đất trở thành đề tài bàn luận len lỏi các xóm. Ban Quản lý
xây dựng nông thôn mới cấp xã đau đầu khi nhiều chủ hộ đòi tiền đền bù đất và chi
phí tháo dỡ cho bằng được. Xác định việc
hoàn thiện đường giao thông theo tiêu chí không dễ dàng thực hiện ngày một ngày
hai, mà là một gánh nặng oằn hai vai, không còn sức là quỵ ngã, xã không ngừng trực
tiếp vận động sự đóng góp, ủng hộ của bà con và cả trên các phương tiện truyền
thông.
Một trong
những người đi đầu hưởng ứng phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới do xã
phát động là anh Mười Kim, chủ quán của những
món ăn bình dân. Lần đến nhà anh đặt vấn đề phát triển giao thông nông
thôn theo hướng Nhà nước và nhân dân cùng làm, Ban
Quản lý xã không phải vận dụng “nghệ thuật tuyên truyền “ nào với anh, chính
tính cởi mở và sự ủng hộ chân tình của anh lại thổi vào tinh thần cộng đồng
ngọn gió mát. Anh sớm là nhân tố điển hình của phong trào tự nguyện hiến đất mở
đường trong xã. Nhiều người trông chờ đến ngày hoàn thành con đường “bê tông
hóa” trước nhà anh để được thoải mái bước chân sớm gánh chiều về, để những bánh xe thật êm đến trường và cả để ngắm
nghía, không phải vì bà con chưa thấy bê tông hóa đường sá, mà vì lối đi vốn
nhỏ hẹp, người dân sống chung quanh còn khó khăn trăm bề chưa dám nghĩ đến
chuyện đóng góp thứ gì để tạo nên một con đường như ý. Tháng 4 năm 2012, mong
muốn “bê tông” đường làng vào nhà anh Kim trở thành hiện thực, bà con truyền miệng
nhau, rồi từ lúc nào không hay, cổ động viên về hiến đất mở đường đến
nơi đâu trong xã cũng có. Nhờ đó, từ 59 đường ngõ xóm Diên An, với chiều dài
13,7 km, đến nay Xã Diên An đã thực hiện kiên cố hóa 100% đạt chuẩn theo tiêu
chí 2 về giao thông nông thôn chỉ trong thời gian 4 tháng.
Trước đây, người
dân Diên An từng than phiền về sự tiều tụy của lòng đường, có nơi đá ngoi lên
lởm chởm, nơi không có đá thì một ít mưa về cũng trơn trượt khó đi. Anh Nguyễn Lầu, chủ tịch
Hội Nông dân xã Diên An cho biết cách đây 6 tháng con đường vào xóm nhỏ anh Kim,
không chỉ hẹp mà hai bên đầy tán cây trĩu ra cả mặt đường, nhiều người, và ngay
cả anh, vướng té là chuyện thường. Còn bây giờ, đã khác!

Tôi tìm đến
nhà anh Kim chẳng mấy khó khăn. Theo đường 23/10 từ Cây Dầu Đôi xuống, đến đèn
xanh đèn đỏ đầu tiên, rẽ phải, qua HTX Diên An, đi thẳng một lèo khoảng 2km, lối
rẽ phải kế tiếp này chính là con đường bê tông phẳng đẹp dẫn vào nhà anh cách
500 m . Trên đường đi tôi cố tìm cho ra một đoạn đường “ngoắc ngoải” như trước
để chụp hình nhưng không có. Lễ Quốc Khánh 2/9 năm nay, trời mưa bay bay, thanh
niên nam nữ chở nhau trên đường đi chơi khá đông, chẳng ai phải chú ý tránh né
đá sỏi, ổ gà và sợ trượt bánh lăn nhào như chúng tôi trước đây.
Thật dễ nhận
ra, anh Kim đang loay hoay bên một ngôi nhà xây dở chừng, gạch đá ngổn ngang. Bố
anh (93 tuổi) ngồi trong một túp lều che tạm bằng tấm bạt nhựa màu xanh. Nhìn
quanh, không thấy lùm cây, bụi cỏ rậm rạp nào, cảm giác không gian thoáng đãng cứ
ùa về trong tôi. Một bác luống tuổi đạp xe qua, đưa tay chào anh Kim rồi nói:”
Xóm nhờ anh Kim hết đó nghe!”. Anh Kim mỉm cười :” Có gì đâu, cho quê hương đẹp
thôi mà!”
Không hề kể về
mình, dù tôi gặng hỏi anh, nhưng qua tìm hiểu, tôi được biết sau khi xã có chủ
trương vận động nhân dân hưởng ứng chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn
mới, anh Kim là người đầu tiên thuyết phục gia đình thực hiện, khó nhất là người
bố, việc đất đai “bị mất” với bố anh là vô cùng hệ trọng . Biết điều đó nên anh
lựa lời và tùy lúc giải thích để bố thấy mát dạ, cuối cùng cũng được người bố đồng
thuận, khó thứ hai là mấy nhà lân cận, tuy xã đã vận dụng phương án hỗ trợ công
và tiền xây dựng nhưng các hộ chưa chịu lùi đất mở đường. Anh Kim tính toán nếu
lùi sâu phần đất nhà mình 2,5 m nữa là đạt tiêu chuẩn đường rộng 5 m, trong đó
phần đổ bê tông là 3,5 m, phần đất nhà đối diện không bị mở, thuận lợi cho xã
nhanh chóng thực hiện tiến độ. Nhưng lùi diện tích đất thì đụng đến phần nhà
anh đang ở, việc tháo dở, xây cất nhà là việc lớn đời người, phức tạp và đủ thứ
phải tính toán. Anh đem chuyện ra bàn với gia đình, biết anh là người sẳn lòng
vì việc chung, sau bao ngày đắn đo, chị cũng đồng tình. Thế là tiền bạc vợ
chồng dành dụm lâu nay được đem ra chi trả công chặt 8 cây xoài đã thu hoạch
được nhiều năm, tiền xây lại tường rào và xây luôn một ngôi nhà mới. Tổng cộng
anh đã hiến hết 70 m chiều dài, hơn 150
m2 đất.
Thấy anh hiến
đất vì lợi ích chung một cách nhiệt tình, không đòi hỏi hỗ trợ gì, ai cũng thầm
quý trọng. Đồng hành cùng anh, có gia đình anh Lâm Văn Hùng (thôn An Nam 2),
anh Kiều Xuân Bông, Lý Văn Hồng (thôn Phú An Nam 4), anh Lê Tá và Huỳnh Bẩm
(thôn An Nam 5). Từ việc làm của các anh, nhiều gia đình khác trong diện mở
đường dần dần hiểu ra mục tiêu xây dựng nông thôn mới cũng tự nguyện hiến đất.
Diên An trở thành điểm nóng của những câu chuyện mình vì mọi người.
Vất vả, bề bộn nhưng chưa bao giờ nhăn nét
mặt, đó là đặc điểm của anh Kim. Đến xã Diên An, bạn sẽ nghe có nhiều anh Kim ở
đây, anh Mười Kim chủ quán, anh Mười Kim hiến đất, anh Mười Kim tiêu biểu… Thực
chất đó là anh Nguyễn Ngọc Kim của phong trào xây dựng nông thôn mới, sinh năm
1961, ở Phú An Nam 4, xã Diên An, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Số ĐT của
anh Kim: 0913420719.
NGUYỄN HỮU HIỆP

MẮT BIẾC LÀNG QUÊ
Nắng trưa vắt qua ngọn đồi
Gió
quen về rung ngọn lá
Vậy mà
làng mình là lạ
Chẳng
ai còn gọi nhà quê!
Làng
mình bây giờ nhiều xe
Chở
vui chia đều khắp ngõ
Hàng
cây xanh xanh mãi đó
Bên
đường dài tận người xa
Mấy
mùa thơm hương vườn hoa
Len
len dòng thơ nốt nhạc
Mái
trường thân thương câu hát
Ươm nồng trang sách trẻ thơ
Bây
giờ công trình nhiều ghê
Khoác
vào đẹp làng chiếc áo
Nay
mai khi mùa gió bão
Không
còn đôi mắt đỏ hoe
Ôm
từng rạo rực vào nghe
Đêm về
thắp lên thật sáng
Nông
thôn chuyển mình nhờ Đảng
Lúa
vàng trổ cả hồn quê
NGUYỄN HỮU HIỆP
|
DIÊN
SƠN,
LÀNG QUÊ ĐỔI MỚI
Một ngày trở lại thăm làng mạc
Ngỡ ngàng bao đổi mới tuôn về
Năm nào sỏi đá đau lòng đất
Giờ nhựa trải đều khắp lối quê
Qua sông một thuở nương thuyền nhỏ
Nay có cầu xây thuận nẻo đường
Tấp nập bán mua nơi xóm chợ
Bao nhiêu hàng hóa của quê hương
Bây giờ nhà ở hai bên đẹp
Áo trắng đến trường thêm dáng xinh
Anh chị công trường đang mải miết
Chung tay góp lực dựng quê mình
Nụ cười ai đó giòn tan lắm
Bên chiếc máy reo tuốt lúa vàng
Điện kéo khắp làng đêm thắp sáng
Trại gà đẻ trứng mỗi ngày tăng
Quyết tâm xây dựng nông thôn mới
Ý Đảng, lòng dân hợp mạnh giàu
Xã rộn lời ca mùa trẩy hội
Diên Sơn, từng bước vững mai sau.
NẮNG TỎA LÀNG QUÊ
Năm kia bé được đến trường
Khi hạt lúa gánh trên đường chông chênh
Ngọn đèn cô độc vào đêm
Chừng như mệt mỏi ngủ quên tháng ngày
Mồ hôi bố vỡ trên vai
Đất cằn gom hết miệt mài xóm quê
Chén cơm đong miết bộn bề
Trên bàn tay mẹ lặng nghe nỗi niềm
Mưa tràn lay giấc bình yên
Người khua tiếng thức dội thêm nhọc nhằn
Bao năm rêu phủ đình làng
Cành nghiêng rũ bóng, ngập ngàn lối đi!
Một ngày nắng tỏa bên lề
Đảng mang hơi ấm đổ về trái tim
Làng quê kết trái cho mình
Hương hoa đượm ánh bình minh thật hồng
Diệu kỳ, khởi sắc nông thôn
Năm nay bé được đến trường khác xưa
Đường trải nhựa, lá đung đưa
Nụ cười bố mẹ được mùa mang theo
Con kênh nước chở sớm chiều
Bao nhiêu khao khát thoát nghèo dần trôi
Mái đình lượn nét đẹp đời
Nông thôn mới, ngọn đèn soi tấm lòng
NGUYỄN HỮU HIỆP
NẮNG TỎA LÀNG QUÊ
Năm kia bé được đến trường
Khi hạt lúa gánh trên đường chông chênh
Ngọn đèn cô độc vào đêm
Chừng như mệt mỏi ngủ quên tháng ngày
Mồ hôi bố vỡ trên vai
Đất cằn gom hết miệt mài xóm quê
Chén cơm đong miết bộn bề
Trên bàn tay mẹ lặng nghe nỗi niềm
Mưa tràn lay giấc bình yên
Người khua tiếng thức dội thêm nhọc nhằn
Bao năm rêu phủ đình làng
Cành nghiêng rũ bóng, ngập ngàn lối đi!
Một ngày nắng tỏa bên lề
Đảng mang hơi ấm đổ về trái tim
Chung nhau kết trái cho mình
Ngàn hoa nở ánh bình minh thật hồng
Diệu kỳ, khởi sắc nông thôn
Năm nay bé được đến trường khác xưa
Đường trải nhựa, lá đung đưa
Nụ cười bố mẹ được mùa mang theo
Con kênh chở nước sớm chiều
Bao nhiêu khao khát thoát nghèo dần trôi
Đình làng xây mát khoảng trời
Nông thôn mới, ngọn đèn soi tấm lòng
NGUYỄN HỮU HIỆP